Đà Nẵng, Quảng Ninh và Hải Phòng bàn giải pháp khơi thông nguồn lực khoa học, công nghệ và chuyển đổi số
Sáng 22/10, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng tiếp và làm việc với đoàn công tác thành phố Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng. Bên cạnh trao đổi kinh nghiệm triển khai khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, các đại biểu tập trung thảo luận về những điểm nghẽn trong phát triển hạ tầng số, cơ chế huy động nguồn lực và hoạt động của quỹ đổi mới sáng tạo.
Đoàn công tác có ông Nguyễn Trung Tiến, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Ninh; ông Vũ Đại Thắng, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng. Đại diện Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng tham dự, trao đổi có ông Lê Sơn Phong và bà Lê Thủy Trinh, Phó Giám đốc Sở.
Toàn cảnh
Chuyển từ trao đổi kinh nghiệm sang bài toán tổ chức thực hiện
Trong phát biểu trao đổi tại buổi làm việc, ông Nguyễn Trung Tiến chia sẻ kinh nghiệm của Quảng Ninh trong việc gắn các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số với yêu cầu phát triển của địa phương. Trọng tâm được đặt vào cách xác định nhiệm vụ cần ưu tiên, tổ chức phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị và huy động sự tham gia của doanh nghiệp, đội ngũ chuyên môn trong quá trình triển khai.
Ông Nguyễn Trung Tiến, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Quảng Ninh trao đổi tại buổi làm việc
Điểm đáng chú ý từ nội dung trao đổi là yêu cầu lựa chọn nhiệm vụ dựa trên vấn đề thực tế cần giải quyết. Nếu nhiệm vụ chỉ dừng ở việc đầu tư thiết bị, xây dựng phần mềm hoặc số hóa hồ sơ mà chưa gắn với thay đổi quy trình, cách quản lý và nhu cầu của người sử dụng, hiệu quả đầu tư sẽ khó được duy trì lâu dài. Vì vậy, bài toán chuyển đổi số cần được xem xét đồng thời ở cả ba khâu: xác định đúng nhu cầu, tổ chức thực hiện có đầu mối chịu trách nhiệm và đánh giá được tác động sau khi đưa vào vận hành.
Từ thực tiễn của Đà Nẵng, ông Lê Sơn Phong và bà Lê Thủy Trinh trao đổi về yêu cầu phát triển hạ tầng số gắn với dữ liệu, nền tảng và khả năng kết nối giữa các hệ thống. Hạ tầng số không chỉ là mạng viễn thông hay máy chủ, mà còn bao gồm cơ sở dữ liệu, nền tảng dùng chung, tiêu chuẩn kết nối, năng lực bảo đảm an toàn thông tin và đội ngũ có khả năng vận hành. Thiếu một trong các cấu phần này, những khoản đầu tư riêng lẻ có thể tạo ra các hệ thống khó liên thông, phát sinh chi phí duy trì và hạn chế khả năng chia sẻ dữ liệu.
Ông Lê Sơn Phong, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng chia sẻ tại buổi làm việc.
Các ý kiến cũng đặt ra yêu cầu nhìn nhận hạ tầng số như một điều kiện nền tảng cho hoạt động quản lý và cung cấp dịch vụ, thay vì một hạng mục công nghệ tách rời. Theo hướng này, việc đầu tư cần bắt đầu từ bài toán nghiệp vụ và người dùng: hệ thống phục vụ quy trình nào, dữ liệu nào cần được kết nối, cơ quan nào chịu trách nhiệm cập nhật và khai thác, tiêu chuẩn an toàn nào phải đáp ứng. Cách tiếp cận đó giúp hạn chế đầu tư trùng lặp, tăng khả năng dùng chung và tạo cơ sở đánh giá hiệu quả bằng kết quả vận hành thực tế.
Nhận diện điểm nghẽn về thể chế, dữ liệu và nguồn lực
Một nội dung trọng tâm của buổi làm việc là trao đổi về các cơ chế giải quyết điểm nghẽn trong quá trình phát triển hạ tầng số. Những vướng mắc thường không chỉ nằm ở công nghệ, mà còn liên quan đến quy trình phối hợp, phân định trách nhiệm, cơ chế đầu tư, tiêu chuẩn dữ liệu và năng lực khai thác sau đầu tư. Khi các hệ thống được xây dựng theo những yêu cầu hoặc chuẩn kỹ thuật khác nhau, việc kết nối và chia sẻ dữ liệu sẽ gặp khó khăn; khi trách nhiệm cập nhật và quản trị dữ liệu chưa rõ, dữ liệu có thể thiếu thống nhất hoặc không được khai thác đúng mức.
Từ góc độ tổ chức thực hiện, việc tháo gỡ điểm nghẽn đòi hỏi rà soát đồng thời cả quy định và quy trình nội bộ. Cơ quan chủ trì cần xác định rõ đơn vị quản lý hệ thống, chủ thể chịu trách nhiệm đối với dữ liệu, yêu cầu kết nối với nền tảng dùng chung và cơ chế phối hợp khi phát sinh sự cố. Các dự án cũng cần tính đủ chi phí vận hành, bảo trì, nâng cấp, bảo đảm an toàn thông tin và đào tạo nhân lực, thay vì chỉ tập trung vào chi phí đầu tư ban đầu.
Vấn đề huy động nguồn lực cho đổi mới sáng tạo được trao đổi trong mối liên hệ với vai trò của quỹ đổi mới sáng tạo. Một quỹ chỉ phát huy tác dụng khi có mục tiêu hoạt động rõ ràng, tiêu chí lựa chọn minh bạch và quy trình đánh giá phù hợp với đặc thù của hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm và ứng dụng công nghệ. Cơ chế tài chính cần tạo điều kiện để các nhiệm vụ có tiềm năng được thử nghiệm, đồng thời bảo đảm trách nhiệm giải trình và đánh giá kết quả trên cơ sở mục tiêu đã xác định.
Các nội dung cần được cân nhắc gồm: nguồn hình thành quỹ; đối tượng và lĩnh vực ưu tiên; phương thức xét chọn nhiệm vụ; cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp; tiêu chí đánh giá kết quả; cũng như cách xử lý các nhiệm vụ có rủi ro trong quá trình thử nghiệm. Việc hỗ trợ không nên chỉ dừng ở cấp kinh phí nghiên cứu, mà cần tạo kết nối với nhu cầu thực tế, môi trường thử nghiệm và khả năng đưa sản phẩm, quy trình hoặc giải pháp vào ứng dụng.
Đây cũng là điểm giao giữa chính sách khoa học, công nghệ với chính sách phát triển doanh nghiệp. Nếu kết quả nghiên cứu không có đơn vị tiếp nhận, không có điều kiện thử nghiệm hoặc không tiếp cận được thị trường, nguồn lực đầu tư khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế – xã hội. Do đó, thiết kế cơ chế quỹ cần quan tâm đến toàn bộ quá trình từ xác định vấn đề, đặt hàng nhiệm vụ, nghiên cứu và thử nghiệm đến ứng dụng, đánh giá và nhân rộng.
Đặt mục tiêu quốc gia vào điều kiện triển khai của địa phương
Buổi làm việc diễn ra trong bối cảnh các địa phương đang triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm; đồng thời yêu cầu phát triển hạ tầng số theo hướng hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả và tránh lãng phí.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt trên 40%; kinh phí dành cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt 2% GDP, trong đó nguồn lực xã hội chiếm hơn 60%. Đây là các mục tiêu ở cấp quốc gia, không phải số liệu hiện trạng của Đà Nẵng, Quảng Ninh hay Hải Phòng. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này cho thấy quy mô nhiệm vụ đặt ra đối với từng địa phương: phải vừa nâng cao năng lực nghiên cứu và đổi mới trong doanh nghiệp, vừa tạo môi trường thể chế và hạ tầng để kết quả công nghệ được ứng dụng rộng hơn.
Để cụ thể hóa định hướng đó, yêu cầu đặt ra là chuyển mục tiêu chung thành nhiệm vụ có thể đo lường và giao trách nhiệm rõ ràng. Với hạ tầng số, có thể đánh giá thông qua mức độ kết nối, khả năng dùng chung, chất lượng dữ liệu, tính liên tục của dịch vụ và chi phí vận hành. Với đổi mới sáng tạo, cần theo dõi khả năng doanh nghiệp tham gia, số nhiệm vụ được ứng dụng, mức độ thương mại hóa kết quả nghiên cứu và tác động đến năng suất hoặc chất lượng dịch vụ. Cách đánh giá dựa trên kết quả giúp các địa phương nhận diện rõ hơn khâu nào đang cản trở tiến độ và nguồn lực nào cần được ưu tiên.
Mở rộng kết nối, hướng tới hợp tác thực chất
Sự tham gia của đại diện ba địa phương tạo điều kiện để đối chiếu kinh nghiệm triển khai trong những bối cảnh quản lý và nhu cầu phát triển khác nhau. Giá trị của hoạt động kết nối không chỉ nằm ở việc chia sẻ mô hình đã thực hiện, mà còn ở khả năng xác định vấn đề có thể phối hợp giải quyết, chẳng hạn chia sẻ phương pháp xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu, trao đổi kinh nghiệm tổ chức quỹ, kết nối cơ sở nghiên cứu với doanh nghiệp hoặc phối hợp thử nghiệm giải pháp số.
Để những trao đổi tại buổi làm việc tạo ra tác động tiếp nối, các nội dung hợp tác cần được cụ thể hóa thành đầu việc, đơn vị đầu mối và sản phẩm dự kiến. Những chủ đề có thể tiếp tục nghiên cứu gồm cơ chế phối hợp tháo gỡ vướng mắc về hạ tầng số; chia sẻ kinh nghiệm quản trị, khai thác dữ liệu; kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; và trao đổi phương thức đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực cho khoa học, công nghệ.
Buổi làm việc góp phần tăng cường kết nối giữa Đà Nẵng, Quảng Ninh và Hải Phòng trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong bối cảnh Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát triển đồng bộ về thể chế, hạ tầng, dữ liệu và nguồn lực, những trao đổi giữa các địa phương có ý nghĩa thiết thực khi giúp nhận diện đúng điểm nghẽn và chuyển kinh nghiệm thành giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế.
